Cơ sở tự nhiên và cơ sở xã hội của tâm lý người

1. Cơ sở tự nhiên của tâm lí người 

1.1. Di truyền và tâm lí 

+ Di truyền là mối liên hệ kế thừa của cơ thể sống, đảm bảo cho sự tái tạo ở thế hệ mới những nét giống nhau về mặt sinh vật đối với thế hệ trước, đảm bảo năng lực đáp ứng những đòi hỏi của hoàn cảnh theo một cơ chế định sẵn.
+ Đặc điểm giải phẫu sinh lí của cá thể bao gồm những yếu tố do di truyền tạo nên và cả những yếu tố riêng tự tạo trong đời sống cá thể của sinh vật. Những yếu tố như thế của con người có ngay từ trong bào thai.
+ Tư chất là một tổ hợp bao gồm cả những đặc điểm giải phẫu vừa là đặc điểm chức năng tâm – sinh lí mà cá thể đã đạt được trong một giai đoạn phát triển nhất định dưới ảnh hưởng của môi trường sống và hoạt động. Đó là đặc điểm của giác quan, của hệ thần kinh tạo nên tiền đề vật chất cho vệc phát triển năng lực của một con người.
Tư chất có tính đa năng, trên cơ sở một tư chất có thể hình thành nhiều năng lực khác nhau.
+ Mỗi cá thể người sinh ra đã nhận được theo con đường di truyền từ các thế hệ trước một số đặc điểm về cấu tạo và chức năng của cơ thể, trong đó có cấu tạo và chức năng của các giác quan và não.
+ Vai trò của di truyền đối với sự phát triển tâm lí con người.
Xung quanh vấn đề này có nhiều quan điểm khác nhau
– Một số nhà tâm lí học tư sản thừa nhận mọi đặc điểm tâm lí đều do tiền định, đều có sẵn trong gien được quyết định bằng con đường di truyền. Sự phát triển là quá trình trưởng thành, chín muồi của các thuộc tính có sẵn trong gen.
– Một số nhà tâm lí tư sản khác đã chú ý đến yếu tố môi trường, đã nói đến vai trò của giáo dục trong sự phát triển tâm lí con người, nhưng vẫn khẳng định rằng tiềm năng sinh vật bấm sinh qui định trước giới hạn của sự phát triển tâm lí, E. Thorndike cho rằng “Tự nhiên ban cho mỗi người một vốn nhất định, giáo dục cần phải làm bộc lộ vốn đó là cái gì và phải sử dụng nó bằng phương tiện tốt nhất”.
– Sinh vật học hiện đại chứng minh rằng, bản thân di tryền cũng bị biến đổi dưới tác động của môi trường và của hoạt động cá thể. Mặt khác cơ thể sống ở bậc tiến hóa càng cao thì tính biến dị đảm bảo cho sự thích ứng của nó với điều kiện sống và kinh nghiệm cá thể càng đóng vai trò lớn hơn. Ngày nay con người còn còn chủ động thay đổi cả tính di truyền. Đối con người điều kiện xã hội và kinh nghiệm xã hội đóng vai trò rất lớn trong sự phát triển tâm lí.
– Di truyền tạo nên những đặc điểm giải phẫu sinh lí của cơ thể trong đó có những đặc điểm giải phẫu sinh lí hệ thần kinh – cơ sở vật chất của hiện tượng tâm lí. Do vậy di truyền có vai trò đáng kể trong sự hình thành và phát triển tâm lí.
Di truyền tạo tiền đề vật chất cho sự hình thành và phát triển tâm lí, nhưng di truyền không quyết định tất cả, không mang sẵn các đặc điểm tâm lí. Di truyền chỉ tạo điều kiện cho tâm lí được hình thành nhanh hay chậm, dễ hay khó và qui định đỉnh cao thành tích hoạt động của cá nhân trong một lĩnh vực hoạt động cụ thể.

Descartes

1.2. Não và tâm lí 

Có rất nhiều quan điểm khác nhau nói về quan hệ giữa não và tâm lí.
+ Quan điểm tâm lí – vật lí song song: Ngay từ thời R. Descartes, với quan điểm nhị nguyên luận, các đại biểu của tâm lí học kinh nghiệm chủ nghĩa coi các quá trình sinh lí và tâm lí song song diễn ra trong não người không phụ thuộc vào nhau, trong đó tâm lí được coi là hiện tượng phụ.
+ Quan điểm đồng nhất tâm lí với sinh lí, đại biểu của chủ nghĩa duy vật tầm thường (Bucsơne, Photstơ, Molesot) cho rằng: tư tưởng do não tiết ra giống như gan tiết ra mật.
+ Quan điểm duy vật coi tâm lí và sinh lí có quan hệ chặt chẽ với nhau, tâm lí có cơ sở vật chất là hoạt động của của bội não, nhưng tâm lí không song song, không đồng nhất với sinh lí.
Tâm lí là chức năng của não. Não bộ nhận tác động của thế giới dưới dạng xung động thần kinh cùng những biến đổi lí hóa ở từng nơron, từng xinap, các trung khu thần kinh ở bộ phận dưới vỏ và vỏ não, làm cho não hoạt động theo qui luật thần kinh tạo nên hiện tượng tâm lí này hay tâm lí khác theo cơ chế phản xạ (nội dung là tâm lí, nhưng có cơ chế phản ánh sinh lí của não).

1.3. Vấn đề định khu chức năng tâm lí trong não 

+ Thế kỷ thứ V (TCN), có quan niệm cho rằng: Lí trí khu trú ở trong đầu (não bộ), tình cảm ở ngực (tim), lòng đam mê ở bụng (gan).
+ Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX một số nhà thần kinh học cho rằng mỗi chức năng tâm lí được định khu ở một vùng trong não: Vùng trí nhớ, vùng trí tuệ, vùng tư duy hoặc trong não có “mấu tư tưởng”, “mấu yêu đương”.
+ Khoa học đã chứng minh, trên vỏ não có các vùng (miền). Mỗi miền là cơ sở vật chất của các hiện tượng tương ứng:
– Vùng chẩm là trung tâm của thị giác
– Vùng thái dương ……….Thính giác
– Vùng gần thái dương … .Vị giác
– Vùng đinh………………Cảm giác cơ thể (da, cơ khớp)
– Vùng trán ………………Vận động có chủ định
Ở vỏ não người còn có các trung khu ngôn ngữ bao gồm vùng nói, vùng viết, vùng nghe, vùng hiểu ngôn ngữ. Ngoài ra còn có các vùng trung gian. Mỗi vùng tham gia và nhiều hiện tượng tâm lí và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Mỗi hiện tượng tâm lí diễn ra có sự tham gia của nhiều vùng khác nhau, các vùng não là có hạn nhưng hiện tượng tâm lí vô hạn.
 Nguyên tắc “phân công” kết hợp với nguyên tắc “liên kết” rất nhịp nhàng tạo nên hệ thống thần kinh chức năng cơ động. Các hệ thống chức năng cơ động được thực hiện bằng nhiều tế bào não từ các vùng, các khối của toàn bộ não tham gia: Khối năng lượng đảm bảo trương lực; khối thông tin đảm bảo việc xử lí thu nhận, xử lí và gìn giữ thông tin; khối điều khiển đảm bảo việc chương trình hóa, điều khiển, điều chỉnh, kiểm tra. Các khối này tham gia liên kết với nhau cùng tham gia thực hiện một hiện tượng tâm lí.
Hệ thống chức năng này hoạt động một cách cơ động, tùy thuộc vào yeu cầu của chủ thể, vào không gian, thời gian và không có tính bất di, bất dịch.
+ Ngày nay các nhà khoa học còn chỉ rõ: Não gồm 3 bộ phận
– Não nguyên thủy (hành tủy, tiểu não) là trung khu của các chức năng cần thiết cho sự tồn tại (hoạt động của các cơ quan nội tiết, giới tính, thói quen).
– Não cổ (não giữa và thể vành) là nơi tập trung các xung năng, các xu thế gắn liền với cảm giác nội tạng, phản ứng cảm xúc.
– Bán cầu não gồm hai phần: Bán cầu não phải là nơi nhận và lưu giữ tất cả các tri giác, nhớ các kỷ niệm, kinh nghiệm của cuộc sống (mỗi thực tế mang một hình ảnh sống động). Bán cầu não trái có chức năng đồng nhất là trung tâm của những cái ổn định,là nơi hội tụ các khái niệm, ký hiệu, sơ đồ.

1.4. Phản xạ có điều kiện và tâm lí 

+ Toàn bộ hoạt động của não là hoạt động phản xạ. Đề các là người đầu tiên nêu ra khái niệm “phản xạ” và dùng phản xạ để giải thích hoạt động tâm lí. Tuy nhiên Đề các mới chỉ nói tới hoạt động vô thức gắn liền với phản xạ.
+ I. M. Xêtrênov – nhà sinh lí học người Nga cho rằng: tất cả các hiện tượng tâm lí, kể cả có ý thức lẫn vô thức đều có nguồn gốc là phản xạ. Theo ông phản xạ gồm có 3 khâu chủ yếu
– Khâu dẫn vào: là quá trình tiếp nhận kích thích bên ngoài, biến thành xung động thần kinh theo đường thần kinh hướng tâm dẫn truyền vào não.
– Khâu trung tâm: Diễn ra quá trình thần kinh trên não, tạo ra hoạt động tâm lí.
– Khâu dẫn ra: Hưng phấn từ trung ương thần kinh theo dây thần kinh li tâm gây nên phản ứng của cơ thể.
+ I. P Pavlov xây dựng học thuyết phản xạ có điều kiện đó là cơ sở sinh lí của mọi hiện tượng tâm lí
Đặc điểm của phản xạ có điều kiện:
– Phản xạ có điều kiện là phản xạ tự tạo trong đời sống cá thể để thích ứng với môi trường luôn thay đổi.
– Cơ sở giải phẫu sinh lí của phản xạ có điều kiện là vỏ não và hoạt động bình thường của vỏ não.
– Qúa trình diễn biến của phản xạ có điều kiện là quá trình thành lập đường thần kinh liên hệ tạm thời giữa các trung khu nhận kích thích có điều kiện và đại diện của trung khu trực tiếp thực hiện phản xạ không điều kiện.
– Phản xạ có điều kiện thành lập với kích thích bất kỳ, đặc biệt ở người tiếng nói là một loại kích thích đặc biệt có thể thành lập bất cứ một phản xạ có điều kiện nào.
– Phản xạ có điều kiện báo hiệu gián tiếp kích thích không điều kiện sẽ tác động vào cơ thể.
Tất cả các hiện tượng tâm lí đều có cơ sở sinh lí là phản xạ có điều kiện, không phải là một mà là một chuỗi phản xạ có điều kiện.

1.5. Qui luật hoạt động thần kinh cấp cao và tâm lí 

Sự hình thành và thể hiện tâm lí chịu ảnh hưởng chịu sự chi phối chặt chẽ của các qui luật hoạt động thần kinh cấp cao.
1.5.1. Qui luật hoạt động theo hệ thống
+ Trong điều kiện tự nhiên của đời sống các kích thích không tác động một cách riêng lẻ, chúng thường tạo thành một tổ hợp kích thích đồng thời hoặc nối tiếp đến cơ thể. Mặt khác cơ thể cũng không phản ứng riêng lẻ mà phản ứng một cách tổ hợp với các kích thích đó.
+ Hoạt động tổng hợp của vỏ não cho phép hợp nhất những kích thích riêng lẻ hay không riêng lẻ thành một hệ thống. Đó là qui luật hoạt động theo tính hệ thống của vỏ não. Các hoạt động phản xạ có điều kiện kế tiếp nhau theo một thứ tự nhất định, tạo nên một hệ thống định hình động lực của vỏ não, làm cho trong não khi có một phản xạ nào đó xảy ra thì kéo theo các phản xạ khác cũng xảy ra.
+ Qui luật này là cơ sở sinh lí thần kinh của xúc cảm, tình cảm, thói quen…
1.5.2. Qui luật lan tỏa và tập trung ( hưng phấn và ức chế)
+ Trên vỏ não có một vùng hưng phấn hoặc ức chế thì hưng phấn và ức chế sẽ không dừng lại ở đó, nó sẽ lan tỏa sang các vùng xung quanh. Sau đó trong những điều kiện bình thường, chúng tập trung vào một điểm nhất định
+ Hai quá trình lan tỏa và tập trung xảy ra kế tiếp nhau trong một trung khu thần kinh. Nhờ đó hình thành một hệ thống chức năng các phản xạ có điều kiện – cơ sở sinh lí của các hiện tượng tâm lí.
1.5.3. Qui luật cảm ứng qua lại
Hai quá trình thần kinh cơ bản có ảnh hưởng qua lại với nhau tạo nên qui luật cảm ứng qua lại.
+ Cảm ứg qua lại đồng thời xảy ra giữa nhiều trung khu: hưng phấn ở điểm này gây nên ức chế ở điểm kia và ngược lại.
+ Cảm ứng qua lại tiếp diễn: ở một trung khu vừa có hưng phấn, sau đó có thể chuyển sang ức chế ở chính trung khu ấy.
+ Cảm ứng dương tính: Đó là hiện tượng hưng phấn làm cho ức chế sâu hơn hoặc bgược lại ức chế làm cho hưng phấn mạnh hơn.
+ Cảm ứng âm tính: Hưng phấn gây nên ức ché hoặc ức chế làm giảm hưng phấn.
Các thuộc tính chú ý đều có cơ sở sinh lí là nội dung của qui luật cảm ứng qua lại.
1.5.4. Qui luật phụ thuộc vào cường độ của kích thích
Trong trạng thái tỉnh táo, khỏe mạnh, bình thường của vỏ não thì độ lớn của phản ứng tỉ lệ thuận với cường độ của kích thích. Ở người sự phụ thuộc này mang tính tương đối vì phản ứng của con người không chỉ phụ thuộc vào cường độ kích thích mà còn phụ thuộc vào tính chủ thể của mỗi người. Mặt khác, trong trường hợp vỏ não chuyển từ trạng thái hưng phấn sang ức chế thì phản ứng còn tùy thuộc vào sự ức chế nông hay sâu của vỏ não.
Tóm lại, các qui luật cơ bản nói trên của hoạt động thần kinh cấp cao có quan hệ với nhau, cùng chi phối sự hình thành, diễn biến và biểu hiện hoạt động tâm lí của con người.

1.6. Hệ thống tín hiệu thứ hai và tâm lí 

Tín hiệu là một vật hay ký tự nào đó đại diện cho vật khác, ký tự khác để gây ra một phản ứng nào đó của cơ thể. Ví dụ: Ánh đèn đại diện cho thức. Tín hiệu và hệ thống tín hiệu có hai loại.
+ Hệ thống tín hiệu bao gồm những tín hiệu do các sự vật hiện tượng và các thuộc tính của chúng, kể cả các hình ảnh do các tín hiệu đó tác động vào não gây ra.
+ Hệ thống tín hiệu I là cơ sở sinh lí của của hoạt động cảm tính trực quan, tư duy cụ thể và ccs cảm xúc cơ thể ở cả người và động vật.
+ Hệ thống tín hiệu II là những tín hiệu ngôn ngữ (tiếng nói và chữ viết), là tín hiệu của tín hiệu. Hệ thống tín hiệu II chỉ có ở người, nó là cơ sở của tư duy ngôn ngữ, ý thức, tình cảm và các chức năng tâmlí cao cấp ở người.
Hai hệ thống tín hiệu có quan hệ chặt chẽ với nhau. Hệ thống tín hiệu thứ nhất là cơ sở của hệ thống tín hiệu thứ hai, hệ thống tin shiệu thứ hai có tác động trở lại hệ thống tín hiệu thứ nhất.

2. Cơ sở xã hội của tâm lí người 

2.1. Quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội và tâm lí người 

+ Thuyết tiến hóa thực chứng của Spenxơ (1820 -1903) cho rằng: Con người không chỉ tồn tại trong môi trường tự nhiên mà còn tồn tại trong môi trường xã hội. Sau khi chuyển lên người, các qui luật và cơ chế thích nghi của động vật, kể cả cơ chế tự tạo kinh nghiệm cá thể cũng không thay đổi, có chăng chỉ là phức tạp hơn ở người.
+ E. R. Gơtri đại biểu của thuyết hành vi mới ở Mỹ khẳng định việc tự tạo kinh nghiệm cá thể của người và động vật là giống nhau. B. F Skinner thì cho rằng cái khác là ở chỗ việc học tập ở người diễn ra trong phạm vi ngôn ngữ.
+ Quan điểm của các nhà xã hội học
– Duych Khêm – Kanvac (Pháp): Xã hội tạo ra bản chất con người, “xã hội là nguyên lí giải thích cơ thể”, Con người là một “tồn tại giao lưu” chứ không phải là một tồn tại hành động. Quá trình xã hội hóa cá thể là một quá trình giao lưu ngôn ngữ, giao lưu tinh thần giữa người này với người khác để lĩnh hội các “biểu tượng xã hội”, các tập tục, lề thói… tạo ra “hành vi xã hội”.
– J. Piaget: Sự phát triển tâmlí là sản phẩm của các mối quan hệ xã hội của cá thể với những người xung quanh, với xã hội, là quá trình cải tổ các cấu trúc của các quá trình nhận thức vốn có của trẻ em, đưa nó đến sự thích nghi.
– Hai nhà tâm lí học Pháp là H. Valong (1879 -1962) và G.pôlide (1903 -1942) coi cái xã hội trong mỗi con người không phải là cái gì trừu tượng mà là sản phẩm của hoạt động giao lưu, của các quan hệ xã hội.
+ Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử (Chủ nghĩa Mác) khẳng định:        
– Các quan hệ xã hội tạo nên bản chất con người “Trong tính hiện thực của nó bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”. Qui luật cơ bản chi phối sự phát triển xã hội loài người là qui luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với lực lượng sản xuất chứ không phải là qui luật chọn lọc tự nhiên.
– Cơ chế chủ yếu của sự phát triển tâm lí con người là cơ chế lĩnh hội nền văn hóa xã hội. Đặc điểm cơ bản của quá trình lĩnh hội là nó tạo ra ở người những những chức năng tâm lí mới, năng lực mới. Qúa trình lĩnh hội là quá trình tái tạo những thuộc tính, những năng lực của loài người thành những năng lực của cá thể mỗi người.. Nói cách khác thông qua cơ chế lĩnh hội mà con người tổng hòa các mối quan hệ xã hội, nền văn hóa xã hội thành bản chất tâm lí người.

A. N Leontiev

2.2. Hoạt động và sự phát triển tâm lí 

* Hoạt động là gì? Có nhiều quan niệm khác nhau về hoạt động.
+ Ở góc độ sinh học: Hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần kinh và bắp thịt của con người tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn những nhu cầu của mình.
 + Về phương diện triết học, tâm lí học: Hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong thế giới.
Hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và thế giới (khách thể hoạt động) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới, cả về phía con người (chủ thể hoạt động). Trong mối quan hệ đó có hai quá trình diễn ra đồng thời bổ sung cho nhau, thống nhất với nhau.
– Quá trình thứ nhất là quá trình đối tượng hóa, trong đó chủ thể sử dụng vốn hiểu biết, kỹ năng, kỹ xảo của mình tác động vào đối tượng làm biến đổi đối tượng để tạo ra sản phẩm (chủ thể chuyển năng lực của mình thành sản phẩm hoạt động). Trong quá trình này, tâmlí của chủ thể được bộc lộ ra, được khách quan hóa ở những thao tác, hành động, ở những sản phẩm hoạt động. Vì vậy quá trình này còn gọi là quá trình xuất tâm hay nội tâm hóa.
– Quá trình thứ hai là quá trình chủ thể hóa: Trong quá trình tác động vào đối tượng, chủ thể chuyển những thuộc tính từ phía đối tượng, những qui luật của chúng về phía bản thân mình tạo nên tâm lí, ý thức, nhân cách của mình. Quá trình này còn gọi là quá trình nhập tâm hay nội tâm hóa.
* Đặc điểm của hoạt động
+ Hoạt động bao giờ cũng là “Hoạt động có đối tượng”. Đối tượng của hoạt động là cái con người cần làm ra, cần chiếm lĩnh. Có nhiều trường hợp, đối tượng không phải là một cái gì có sẵn mà nó đang được xuất hiện ngay trong quá trình hành động.
Đối tượng là hiện thân của động cơ thúc đẩy con người hoạt động, quy định xu hướng, tính chất của hoạt động.
Động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm tác động vào khách thể làm thay đổi nó, biến đổi nó thành sản phẩm hoạt động, hoặc tiếp nhận nó chuyển vào đầu óc mình tạo nên tâm lí mới, năng lực mới.
Tuy nhiên động cơ đôi khi nằm ngoài đối tượng, động cơ này gọi là động cơ kích thích. Ví dụ: học sinh học tập tốt chỉ vì phần thưởng. Động cơ kích thích nếu sử dụng hợp lí vẫn có tác dụng tích cực.
+ Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể.
– Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể tiến hành. Chủ thể có thể là một hay nhiều người.
– Tính chủ thể bao hàm tính tích cực. Chủ thể càng tích cực bao nhiêu, tính chủ thể càng cao bấy nhiêu.
+ Hoạt động bao giờ cũng có mục đích.
– Mục đích hoạt động là làm biến đổi khách thể và cả chủ thể. Nói cách khác, mục đích hoạt động là tạo ra sản phẩm (vật chất hay tinh thần) có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với việc thỏa mãn nhu cầu.
– Tính mục đích gắn liền với tính đối tượng.
– Tính mục đích bị chế ước bởi nội dung xã hội. Chẳng hạn làm bất cứ việc gì, khi xác định mục đích con người thường nghĩ tới tính đạo đức của mực đích mình hướng tới.
+ Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián tiếp.
– Muốn tiến hành hoạt động, con người phải sử dụng công cụ để tác động vào đối tượng. Các công cụ hoạt động gồm: Công cụ kỹ thuật (máy móc, dụng cụ, kỹ năng công nghệ…) và công cụ tâm lí (tiếng nói, chữ viết, ký hiệu, mô hình, hình ảnh… để tổ chức điều khiển thế giới tinh thần của con người).
– Công cụ là khâu trung gian giữa chủ thể và đối tượng, tạo ra tính gián tiếp của hoạt động.
* Các loại hoạt động: Có nhiều cách phân loại hoạt động
+ Xét về phương diện cá thể: Hoạt động bao gồm 4 loại
– Hoạt động vui chơi
– Hoạt động học tập
– Hoạt động lao động
– Hoạt động x ã hội
+ Xét về phương diện sản phẩm (vật chất hoặc tinh thần)
– Hoạt động thực tiễn là hoạt động hướng vào vật thể hay quan hệ tạo ra sản phẩm vật chất là chủ yếu.
– Hoạt động lí luận là hoạt động diễn ra với hình ảnh, biểu tượng, khái niệm… tạo ra hình ảnh tinh thần.
Hai hoạt động này bổ xung cho nhau.
+ Cách phân loại khác, chia hoạt động thành các loại sau:
– Hoạt động biến đổi
– Hoạt động nhận thức
– Hoạt động định hướng gía trị
– Hoạt động giao lưu.
* Cấu trúc của hoạt động
+ Chủ nghĩa hành vi: Hoạt động của con người và động vật có cấu trúc giống nhau là  SR.
+ Trong tâm lí học, có lúc người ta chỉ xét cấu trúc hoạt động bao gồm các thành tố diễn ra ở phía con người (chủ thể) gồm 3 yếu tố: Hoạt động – Hành động – Thao tác.
+ A. N. Leontiev bao gồm 6 thành tố có quan hệ mật thiết với nhau
                                  
DÒNG CÁC HOẠT ĐỘNG

                               Chủ thể               ↔            Khách thể
                                    ↕                                        ↕
                        Hoạt động cụ thể       ↔            Động cơ
                                    ↕                                        ↕  
                             Hành động           ↔             Thao tác     
                                    ↕                                        ↕  
                              Thao tác              ↔             Phương tiện

                                                     Sản phẩm

– Động cơ là yếu tố thúc đẩy con người hoạt động, khi nhu cầu xuất hiện thúc đẩy con người có ý hướng hoạt động để thỏa mãn nhu cầu. Đối tượng nào được chủ thể nhận thứ đầy đủ, đáp ứng việc thỏa nãm nhu cầu, đối tượng ấy trở thành động cơ thúc đẩy con chủ thể tác động làm biến đổi để thỏa mãn nhu cầu.          
Như vậy, động cơ tâm lí không phải là thuần túy tinh thần ở bên trong cá thể mà nó được vật chất hóa ra bên ngoài, nó mang một hình thức tồn tại vật chất bên ngoài. Ví dụ, hoạt động học tập động cơ đích thực là sự hấp dẫn của tri thức. Động cơ được phát triển từ đối tượng theo xu hướng ngày càng cụ thể hơn, tiến trình đó được chốt lại trong những mục đích.
– Mục đích là sự cụ thể hóa của động cơ, là cái mà hoạt động hướng tới. Động cơ là mục đích chung, mục đích tổng thể. Mục đích mà hành động hướng tới là mục đích bộ phận, mục đích cụ thể. Quá trình thực hiện vì động cơ là hoạt động, quá trình đi đến mục đích gọi là hành động.
– Chủ thể có thể đạt mục đích bằng những phương tiện xác định, mỗi phương tiện qui định cách thức hành động. Tùy theo các điều kiện, phương tiện mà chủ thể thực hiện các thao tác để đạt mục đích. Nói cách khác hành động thực hiện nhờ các thao tác.
Sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, giữa đơn vị thao tác và nội dung đối tượng tạo ra sản phẩm (cả về phía khách thể và chủ thể).
Như vậy xét về phía chủ thể gồm có 3 thành tố: Hoạt động, hành động, thao tác. Ba thành tố này là các đơn vị (mặt kỹ thuật) của hoạt động. Về phía khách thể gồm động cơ, mục đích, phương tiện. Ba mặt này là nội dung đối tượng của hoạt động. Các thành tố luôn có quan hệ mật thiết, chuyển hóa lẫn nhau tạo nên cấu trúc phức tạp của hoạt động.
Việc xem xét cấu trúc hoạt động giúp chúng ta thấy rõ diễn biến tâm lí của con người được hình thành và thể hiện như thế nào trong hoạt động. Vì vậy muốn hình thành, phát triển tâm lí cho học sinh chúng ta phải tổ chức, đưa các em tham gia vào các hoạt động đúng đắn, khoa học. Muốn đánh giá nhân cách học sinh cũng phải dựa vào hoạt động của chính bản thân các em. Phải xem xét động cơ, mục đích, hành động, điều kiện hoạt động như thế nào? Hành động thao tác của cá em ra sao?

2.3. Giao tiếp và tâm lí 

* Giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lí giữa người với người, qua đó con người trao đổi với nhau những thông tin, cảm xúc, nhận thức lẫn nhau, ảnh hưởng tác động qua lại với nhau. Nói cách khác giao tiếp là xác lập vận hành quan hệ người – người, hiện thực hóa các quan hệ giữa người ta với nhau.
* Giao tiếp giữa người với người có nhiều hình thức
+ Giao tiếp giữa cá nhân với cá nhân
+ Giao tiếp giữa cá nhân với nhóm
+ Giao tiếp giữa nhóm với nhóm, giữa nhóm v ới cộng đồng
* Giao tiếp có nhiều loại
+ Dựa vào phương tiện giao tiếp có 3 loại :
– Giao tiếp bằng ngôn ngữ
– Giao tiếp bằng bằng tín hiệu (cử chỉ, điệu bộ, hành vi cử chỉ…)
– Giao tiếp bằng hành động với vật chất
+ Dựa vào khoảng cách
– Giao tiếp trực tiếp
– Giao tiếp gián tiếp
+ Dựa theo qui cách
– Giao tiếp không chính thức
– Giao tiếp chính thức
* Giao tiếp là điều kiện, là phương tiện của sự phát triển tâm lí
Chỉ có thông qua giao tiếp mỗi cá nhân nhập tâm được những chuẩn mực xã
hội, tạo ra sự phát triển tâm lí, ý thức v à nhân cách v à ngôn ngữ.

2.4. Quan hệ giữa giao tiếp và hoạt động 

+ Nhiều nhà tâm lí học cho rằng giao tiếp như một dạng đặc biệt của hoạt động. Giao tiếp cũng được diễn ra bằng những hành động thao tác cụ thể, sử dụng những phương tiện khác nhau nhằm đạt được mục đích xác định, thỏa mãn nhu cầu , tức là cũng được thúc đẩy bởi động cơ.
+ Một nhà tâm lí học khác lại cho rằng giao tiếp và hoạt động là hai phạm trù đồng đẳng có quan hệ qua lại với nhau.
– Có trường hợp giao tiếp là điều kện của hoạt động
– Có trường hợp hoạt động lại là điều kiện của giao tiếp. Chẳng hạn kịch câm, múa trên sân khấu…
Có thể nói cả giao tiếp và hoạt động đều là hai mặt không thể thiếu của cuộc sống, của hoạt động cùng nhau giữa con người với con người trong thực tiễn.
Tóm lại, tâm lí con người chính là kinh nghiệm xã hội loài người chuyển thành kinh nghiệm của cá nhân thông qua hoạt động và giao tiếp, trong quá trình ấy, giáo dục luôn luôn giữ vai trò quan trọng. Nói cách khác, hoạt động và giao tiếp, mối quan hệ giữa chúng là qui luật tổng quát hình thành, phát triển và biểu hiện tâm lí người.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *