Sự hình thành và phát triển tâm lý, ý thức

1. Sự hình thành và phát triển tâm lý 

1.1. Sự nảy sinh và hình thành tâm lý về phương diện loài người 

* Tiêu chuẩn xác định sự nảy sinh tâm lý
Phản ánh là thuộc tính chung của vật chất. Phản ánh có nhiều loại: Phản ánh cơ học, phản ánh vật lí, phản ánh hóa học, phản ánh sinh vật, phản ánh xã hội trong đó có phản ánh tâm lý. Sự phát triển của các hình thức phản ánh gắn liền với sự tiến hóa của vật chất.

Thời gian xuất hiện

Cấp động vật

Tổ chức thần kinh

Trình độ phản ánh

(sự nảy sinh và phát triển tâm lí)

Từ 2000 triệu năm trướcĐộng vật nguyên sinh (bọt bể)Chưa có tế bào thần kinh (mới có mạng thần kinh phân tán khắp cơ thể)Có tính cảm ứng kích thích.
Từ 600 – 500tr năm trướcĐộng vật chân đốt (tiết túc)Xuất hiện hạch thần kinhCó tính nhạy cảm (xuất hiện cảm giác)
Từ 350 – 300tr năm trướcCó hệ thần kinh trung ương. mầm mống của vỏ não.Bắt đầu nhận biết (Tri giác đơn giản)
Từ 200 – 100tr năm trướcBò sátBộ não phát triển. Xuất hiện vỏ nãoTri giác phát triển, có khả năng chú ý
Từ 50 – 30tr năm trướcĐộng vật có vú bậc thấpBán cầu não lớn phát triển. Vỏ não phát triểnCó biểu tượng của trí nhớ.
Khoảng 10tr năm trướcĐộng vật có vú bậc cao (Họ khỉ)Vỏ não phát triển trùm lên các phần khác của nãoBắt đầu tư duy bằng tay và có mầm mống của trí tưởng tượng
Khoảng 2 – 1tr năm trướcNgườiVỏ não phát triển: nhiều nếp nhăn, khúc cuộn, tăng diện tích vỏ não, xuất hiện hệ thống tín hiệu thứ 2Ý thức – tư duy trừu tượng, ngôn ngữ, ý chí, thái độ giao tiếp và tâm lí xã hội, nhân cách.

– Khi sự sống xuất hiện trên trái đất, sự phản ánh mang một chất lượng mới so với sự phản ánh của vật chất không sống, biểu hiện cơ thể có phản ánh lựa chọn đối với các tác động bên ngoài.
– Hình thức phản ánh sinh vật đầu tiên của động vật nguyên sinh là tính chịu kích thích: Đó là khả năng đáp lại các tác động ngoại giới có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của cơ thể (đây chưa phải là sự phản ánh tâm lí vì nó là sự phản ánh trực tiếp với kích thích có tính chất sinh học, sự phản ánh mang tính đơn nghĩa).
Tính nhạy cảm là khả năng đáp lại những kích thích có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp tới sự tồn tại của cơ thể. Tính nhạy cảm giúp cơ thể định hướng trong môi trường. Tính nhạy cảm là mầm mống đầu tiên của tâm lý, xuất hiện cách đây khoảng 600 triệu năm.
* Các thời kỳ phát triển tâm lý
+ Xét theo mức độ phản ánh tâm lí của loài người trải qua 3 thời kỳ
– Thời kỳ cảm giác: Đây là thời kỳ đầu tiên của sự phản ánh tâm lý, có ở động vật không xương sống. Ở thời kì này con vật mới có khả năng trả lời từng kích thích riêng lẻ. Các động vật ở các bậc thang tiến hóa càng cao và ở loài người đều có thời kỳ cảm giác, nhưng cảm giác của con người khác xa về chất so với cảm giác của loài vật.
– Thời kỳ tri giác: Thời kỳ tri giác bắt đầu xuất hiện ở loài cá (350 -300 triệu năm trước). Đặc trưng ánh ánh của thời kỳ này là động vật có khả năng đáp lại một tổ hợp các kích thích ngoại giới chứ không đáp lại từng kích thích riêng lẻ. Từ loài lưỡng cư, bò sát, loài chim đến động vật có vú tri giác đạt đến mức độ khá hoàn chỉnh. Đến cấp độ người tri giác mang một chất lượng mới. Con mắt, cái mũi, lỗ tai người có “hồn”, có “thần”.
– Thời kỳ tư duy: Đây là giai đoạn phát triển tâm lý bậc cao, ở giai đoạn này, cá thể phản ánh được thuộc tính bản chất, mối liên hệ có tính qui luật của sự vật hiện tượng. Thời kỳ này có hai giai đoạn

  • Tư duy bằng tay: Có ở người vượn Ôxtralôpitec cách đây khoảng 10tr năm. Con vật đã biết dùng tay để sờ mó, lắp ráp, giải quyết tình huống cụ thể trước mắt, tức là đã phản ánh được mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng.
  • Tư duy ngôn ngữ: đây là loại tư duy có một chất lượng mới hoàn toàn, nảy sinh khi loài người xuất hiện và chỉ có ở con người giúp con người nhận thức được bản chất, qui luật của thế giới. Nhờ có tư duy bằng ngôn ngữ mà hoạt động của con người có tính mục đích, tính kế hoạch cao nhất, hoàn chỉnh nhất, giúp con người không chỉ nhận thức, cải tạo thế giới mà còn nhận thức và cải tạo chính bản thân mình.

Tổng quan về sự phát triển tâm lý người

Lứa tuổiHoạt động chủ đạoĐặc trưng tâm líMức độ phát triển cần đạt
Giai đoạnThời kỳ
Sơ sinhTừ 0 – 2 thángĂn, ngủ, phối hợp phản xạĐộng tác bột phátThực hiện các chức năng sinh lý người. Phối hợp các phản xạ và động tác đơn giản bột phát
Hài nhitừ 3 – 12 thángGiao tiếp cảm xúc trực tiếpCộng sinh cảm xúc, động tác biểu cảmThực hiện quan hệ giao tiếp ban đầu với người lớn
Ấu nhi12 tháng – 3 tuổiHoạt động với đồ vậtBắt chước hành động sử dụng đồ vật. Hành động tìm tòi khám pháHiểu biết chức năng các đồ vật xung quanh
Biết cách sử dụng đồ vật theo kiểu người
Mẫu giáoTừ 3 – 6 tuổiVui chơi (đặc biệt là trò chơi phân vai)Ý thức bản ngã, tình cảm cấp cao hình thành và phát triển. Tư duy trực quanh hình tượngLàm chủ các chức năng tâm lí người.
Chủ động trong môi trường gần gũi (Gia đình, lớp mẫu giáo)
Tuổi học sinhNhi đồng
(7 – 11, 12 tuổi)
Học tập– Lĩnh hội nền tảng tri thức và phương pháp, công cụ nhận thức.
– Hiếu động, ham tìm tòi, khám phá.
Làm chủ từng bước các quan hệ xã hội của bản thân. Phát triển nhân cách với tư cách là chủ thể xã hội
Thiếu niên
(11,12 – 14, 15 tuổi)
Học tập
Giao  tiếp nhóm bạn bè
– Dậy thì
– Quan hệ tâm tình, bạn bè
– “Cải tổ” nhân cách và định hình bản ngã
– Muốn được đối xử như người lớn.
Thanh xuân 15 – 18 tuổiHọc tập
Hoạt động xã hội
– Hình thành thế giới quan
– Định hướng chuẩn bị nghề nghiệp
-Ham hoạt động xã hội
Tình bạn thân và xuất hiện mối tình đầu
Tuổi trưởng thànhThanh niên, trung niênLao độngNgười đã trưởng thành
Già lãoNghỉ ngơi

+ Xét theo nguồn gốc nảy sinh, sự hình thành tâm lý người trải qua các thời kỳ sau:
– Thời kỳ bản năng: 
Bản năng là hành vi bẩm sinh, mang tính di truyền, có cơ sở là những phản xạ không điều kiện. Bản năng thỏa mãn những nhu cầu thuần túy của cơ thể như ăn, uống, tự vệ, sinh dục…
Hành vi bản năng có từ động vật không xương sống. Ở bgười hành vi bản năng mang tính xã hội được điều khiển bởi ý thức. 
– Hành vi kỹ xảo:
Kỹ xảo là hành vi tự tạo trong đời sống cá thể do sự luyện tập hoặc do sự lặp đi lặp lại nhiều lần. Hành vi kỹ xảo mang tính mềm dẻo. Cơ sở của những hành vi kỹ xảo là hệ thống phản xạ có điều kiện, được lặp đi lặp lại nhiều lần (động hình). So với bản năng hành vi kỹ xảo có tính mềm dẻo và có khả năng biến đổi lớn. Hành vi kĩ xảo được hình thành một cách tự nhiên hoặc nhân tạo.
– Hành vi trí tuệ:
Hành vi trí tuệ là kiểu hành vi cao nhất, mềm dẻo và hợp lí nhất nhằm giải quyết những tình huống cụ thể. Hành vi trí tuệ do cá thể tự tạo trong trong đời sống, chỉ xuất hiện ở những động vật có khả năng phản ánh mối liên hệ giữa các sự vật hiện tượng với nhau.
Hành vi trí tuệ ở vượn bgười chủ yếu nhằm vào giải quyết các tình huống cụ thể liên quan tới việc thỏa mãn nhu cấuinh vật của cơ thể.
Hành vi trí tuệ của con người sinh ra trong hoạt động, nhằm nhận thức bản chất, mối quan hệ có tính qui luật của thế giới khách quan để thích ứng và cải tạo nó. Hành vi trí tuệ của con người gắn liền với ngôn ngữ và có ý thức.

su hinh thanh va phat trien tam ly y thuc

1.2. Các giai đoạn phát triển tâm lí về phương diện cá thể 

* Thế nào là sự phát triển tâm lý về phương diện cá thể
Sự phát triển tâm lí con người về phương diện cá thể là quá trình biến đổi liên tục từ cấp độ này sang cấp độ khác. Ở mỗi cấp độ lứa tuổi, sự phát triển tâm lí đạt tới một chất lượng mới (chức năng tâm lí mới , phẩm chất tâm lí mới, cấu tạo tâm lý mới và hình thành năng lực người) và diễn ra theo qui luật đặc thù.
Cơ chế của sự phát triển là quá trình trẻ em lĩnh hội kinh nghiệm xã hội loài người biến thành kinh nghiệm riêng thông qua hoạt động của bản thân trong mối quan hệ với người khác, ở đó giáo dục giữ vai trò chủ đạo
* Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi
+ L. X. Vưgõtki căn cứ vào những thời điểm mà sự phát triển tâm lý có những đột biến để xác định thời kỳ phát triển tâm lý.
+ A. N. Leonchiev chỉ ra rằng sự phát triển tâm lý của con người gắn liện với sự phát triển hoạt động của con người trong thực tiễn đời sống của nó, trong đó một số hoạt động đóng vai trò chủ đạo trong sự phát triển tâm lý, một số hoạt động khác chỉ giữu vai trò phụ. Sự phát triển tâm lý con người phụ thuộc chủ yếu vào hoạt động chủ đạo. Các nhà tâm lý học chỉ rõ hoạt động chủ đạo ở từng giai đoạn lứa tuổi của trẻ em và các hoạt động chủ đạo có tác dụng quyết định chủ yếu nhất đối với sự hình thành những nét căn bản và đặc trưng cho giai đoạn hoặc thời kỳ lứa tuổi, đồng thời qui định tính chất của các hoạt động khác.
+ Các giai đoạn phát triển tâm lý theo lứa tuổi
– Giai đoạn sơ sinh và hài nhi
Thời kỳ tuổi sơ sinh: 0 – 2 tháng
Thời kỳ tuổi hài nhi : 2 – 12 tháng
– Giai đoạn trước tuổi học
Thời kỳ tuổi vườn trẻ (1-3 tuổi)
Thời kỳ tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi)
– Giai đoạn tuổi đi học
Tuổi nhi đồng (6 -11 tuổi)
Tuổi thiếu niên (trung học cơ sở: 12- 15 tuổi)
Tuổi thanh niên (trung học phổ thông 15 – 18 tuổi)
Tuổi sinh viên ( từ 18,19 đến 24,25 tuổi,  tuổi trưởng thành
– Giai đoạn tuổi trưởng thành từ 24, 25 tuổi trở đi)
– Giai đoạn người già (sau tuổi về hưu từ 55, 60 tuổi trở đi)

2. Sự hình thành và phát triển ý thức 

2.1. Khái niệm về ý thức 

+ Theo nghĩa rộng: Ý thức là tinh thần, tư tưởng của con người như ý thức tổ chức kỷ luật, ý thức đoàn, ý thức lớp…
+ Theo nghĩa hẹp: Ý thức là một khái niệm được dùng để chỉ một cấp độ đặc biệt trong tâm lý con người.
Ý thức là hình thức phản ánh tâm lý cao nhất chỉ riêng con người mới có, phản ánh bằng ngôn ngữ, là khả năng con người hiểu được các tri thức mà con người đã tiếp thu được (là tri thức về tri thức, phản ánh của phản ánh).
Có thể ví ý thức như “cặp mắt thứ hai” soi vào kết quả (các hình ảnh tâm lý) do “cặp mắt” thứ nhất (cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng, cảm xúc…)  đem lại. Với ý nghĩa đó ta có thể nói: Ý thức là tồn tại được nhận thức.

2.2. Các thuộc tính cơ bản của ý thức 

+ Ý thức thể hiện năng lực nhận thức cao nhất của con người về thế giới
– Quá trình nhận thức có cả ở người và ở vật. Nhưng nhận thức ở động vật mới chỉ dừng lại ở sự phản ảnh những thuộc tính và mối quan hệ bề ngoài của sự vật hiện tượng cụ thể. Trong khi đó sự nhận thức của con người không chỉ dừng lại ở đó mà con người còn phản ánh được những thuộc tính bản chất, mối quan hệ, liên hệ có tính qui luật của nhiều sự vật hiện tượng. Con người dùng ngôn ngữ để biểu đạt nó, khách quan hóa cái mà mình nhận thức được (nhận thức khái quát bằng ngôn ngữ). Không những thế con người còn phản ánh được chính quá trình phản ảnh của mình.
– Trên cơ sở nhận thức thế giới con người dự kiến trước được kế hoạch hành động và kết quả hành động của mình (Trong thực tế chưa có hoạt động, chưa có sản phẩm nhưng con người đã hình dung được nó ở trong đầu, làm cho hành vi của mình mang tính chủ định).
+ Ý thức thể hiện thái độ của con người đối với thế giới
Trên cơ sở nhận thức, con người còn tỏ thái độ đối với cái mà mình nhận thức. Đó là thái độ đánh giá, thái độ rung cảm, thái độ lựa chọn.
Nếu một người có thái độ không đúng đối với thế giới xung quanh, cũng như đối với chính mình, đi đó thể hiện ý thức chưa được hình thành hoặc bị rối loạn. Chẳng hạn, đứa trẻ 3 tuổi để chảy mũi nhưng không biết xấu hổ. Người tâm thần không có thái độ đúng đối với mọi người. Một người không rung động trước việc làm tốt hoặc không tỏ ra bất bình trước việc làm xấu của người khác, chứng tỏ ý thức đạo đức rất kém.
K. Mác nói: Ý thức tồn tại đối với tôi là tồn tại thái độ đối với sự vật này hay sự vật khác. Động vật không biết tỏ thái độ đối với ai cả.
+ Ý thức thể hiện năng lực điều khiển, điều chỉnh hành vi của con người
Trên cơ sở nhận thức và tỏ thái độ đối với thế giới xung quanh, con người dự kiến trước hành động của mình, xác định được kế hoạch, mục đích hành động cần đạt và luôn luôn điều khiển, điều chỉnh hành động để đạt mục đích đã định. Điểm này phân biệt bản chất hành động của con người với con vật. Hành vi của con vật mang tính bản năng thụ động, còn hành vi của con người mang tính ý thức. Ví dụ, hành vi thỏa mãn cái đói của con người và con vật là rất khác nhau. Con vật và con người khi đối đều tìm kiếm thức ăn. Nhưng sự tìm kiếm của con vật luôn mang tính thụ động, nếu thấy thức ăn con vật ăn ngay, không tìm được thức ăn con vật trở nên bất lực. Còn sự tìm kiếm của con người mang tính chủ động, gặp được thức ăn có sẵn, con người bao giờ cũng xem xét, hoài nghi, đặt câu hỏi rồi mới ăn. Không có thức ăn sẵn, con người nghĩ cách tạo ra nó bằng nhiều biện pháp.
+ Khả năng tự ý thức: Con người không chỉ ý thức thế giới khách quan mà còn ý thức được chính bản thân mình. Tự ý thức là mứ độ cao của ý thức, thể hiện ở các mặt: nhận thức về mình (vẻ bề ngoài lẫn đời sống nội tâm); Có thái độ về mình (đánh giá).

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *