Tâm lý học là một khoa học

Mục Lục:

Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lý học 

1.Tâm lý, tâm lý học là gì? 

            + Tâm lý là gì ?

  • Trong nhận thức thông thường, từ tâm lý thường được dùng để nói về sự hiểu biết tâm tư, tình cảm, nguyện vọng của người khác để ứng xử phù hợp.

Ví dụ: “Thầy giáo rất tâm lý”, “Chị A không tâm lý tí nào”. Cách hiểu như vậy đúng nhưng chưa đủ. Tâm lý con người còn bao gồm nhiều hiện tượng phức tạp khác như: Rung cảm khi nghe một bản nhạc, suy nghĩ, hình dung về một công việc hay về một lời nói của người khác, nhớ lại nhiều kiến thức đã được lĩnh hội, xem xét điều kiện khách, quan chủ quan rồi đắn đo đi đến quyết định một hành động… Nói cách khác, tâm lý con người bao rất nhiều hiện tượng như cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tưởng, tình cảm, ý chí, niềm tin… Tất cả những hiện tượng trên quan hệ mật thiết với nhau tạo thành đời sống nội tâm phong phú của con người.

  • Từ điển tiếng Việt (1988) định nghĩa “Tâm lý là ý nghĩ, tình cảm… Làm thành đời sống nội tâm, thế giới bên trong của con người”.
  • Theo nghĩa đời thường, chữ “tâm” có ý nghĩa thiên về tình cảm, đạo đức như lương tâm, tâm đắc, tâm địa, tâm can… Chữ “hồn” diễn đạt tư tưởng, tinh thần, ý thức, ý chí của con gười

            Đời sống tâm lý (thế giới bên trong) của con người chỉ được hình thành, phát triển trên nền tảng cơ thể phát triển bình thường và bằng hoạt động của chính mỗi người trong mối quan hệ xã hội của người ấy (thế giới bên ngoài), nghĩa là “tâm hồn” gắn liền với “thể xác”.

  • Tóm lại, tâm lý bao gồm tất cả những hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc con người, gắn liền và điều hành mọi hành động, hoạt động của con người.

            + Tâm lý học là một khoa học nghiên cứu đời sống tâm lý con người. Tâm lý học trở thành một khoa học độc lập vào nửa cuối thế kỷ XIX. Trước khi trở thành một khoa học độc lập, những tư tưởng tâm lý học đã phát triển rất phức tạp, gắn liền với lịch sử xã hội loài người.

2. Vài nét lịch sử hình thành và phát triển tâm lý học 

2.1. Những tư tưởng thời cổ đại 

Ngay từ khi xã hội mới được hình thành (thời kỳ nguyên thủy) đã xuất hiện những quan niệm về “hồn”, “phách” sau cái chết của thể xác. Những tư tưởng này thể hiện trong di chỉ của người nguyên thủy và trong các kinh của Ấn độ. Trong giai đoạn phát triển tiếp theo của thời kỳ cổ đại tồn tại hai quan điểm về tâm lý con người.

+ Quan điểm duy tâm cho rằng: Tâm lý (linh hồn) là cái có trước, thực tại là cái có sau. Linh hồn do Thượng đế, do Trời sinh ra.

  • Khổng Tử (551 – 479 TCN) nói đến chữ “tâm” của con người là “nhân, trí, dũng”. Về sau học trò của ông nêu thành “nhân, lễ, nghĩa, trí, dũng”. Khổng Tử cho rằng ”Nhân chi sơ, tính bản thiện”, con người ta sinh ra vốn là thiện, cái thiện là do trời sinh, về sau vì những lý do khác nhau, có người làm mất đi cái thiện vốn có ban đầu.
  • Xôcrat (nhà triết học duy tâm người Hy lạp 469 – 399 TCN) là người đầu tiên đưa ra câu châm ngôn “hãy tự biết mình”. Đây là định hướng có giá trị to lớn cho tâm lý học. 
  • Platon (428 – 348 TCN) cho rằng tâm hồn là do Thượng Đế sinh ra. Theo ông tâm hồn có 3 loại: Tâm hồn trí tuệ nằm ở đầu (chỉ có ở giai cấp chủ nô), tâm hồn dũng cảm nằm ở ngực (chỉ có ở giai cấp quí tộc), tâm hồn khát vọng nằm ở bụng (chỉ có ở giai cấp nô lệ).

+ Quan điểm duy vật cho rằng tâm lý là một thứ vật chất do các vật chất khác sinh ra.

  • Talet (624 – 547 TCN): Tâm lý được cấu tạo từ nước.
  • Heraclet (520 – 460 TCN): Tâm lý do lửa sinh ra.
  • Đêmocrit ( 460 – 370 TCN): Tâm lý được hình thành từ một loại nguyên tử đặc biệt, nguyên tử lửa là cốt lõi tạo nên tâm lý.
  • Arixtot (384 – 322 TCN) có nhiều tiến bộ hơn. Ông cho rằng tâm hồn gắn liền với thể xác.

Theo ông tâm hồn có 3 loại: Tâm hồn thực vật  còn gọi là tâm hồn dinh dưỡng (có cả ở người và vật); tâm hồn động vật có chung ở cả người và động vật, thực hiện chức năng cảm giác vận động; tâm hồn trí tuệ chỉ có ở người.

  • Phương đông có thuyết Ngũ hành cho rằng: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ tạo nên vạn vật trong đó có tâm hồn con người.
2.2. Những tư tưởng tâm lí nửa đầu thế kỷ XIX trở về trước 

+ Thời kỳ trung cổ tôn giáo là hình thức tư tưởng chủ yếu chi phối đời sống tinh thần của xã hội làm cho triết học (trong đó có tâm lý học), chính trị biến thành các môn thần học.

+ Sang thời kỳ văn hóa phục hưng đến nửa đầu thế kỷ XIX văn hóa khoa học phát triển, những tư tưởng tâm lý học cũng được phát triển mạnh.

Thế ký XVIII nhà triết học Đức tên là Vôn Phơ đã chia nhân chủng “nhân học” thành hai thứ khoa học: Khoa học về cơ thể  và khoa học về tâm lí, Tâm lí học có tên gọi từ đấy. Năm 1732 ông xuất bản cuốn “Tâm lí học kinh nghiệm”, năm 1734 xuất bản cuốn “Tâm lí học lý trí”. Tuy phát triển mạnh nhưng những tư tưởng về tâm lí học vẫn diễn ra sự đấu tranh giữa quan điểm duy tâm và quan điểm duy vật về mối quan hệ tâm lí và vật chất.

  • Chủ nghĩa duy tâm vẫn coi tinh thần là cái có trước, tinh thần sinh ra vật chất.

Nguồn gốc của tinh thần là không thể biết được. Điển hình như Becơly (người Anh, 1685 – 1753), Hium (Xcotlen, 1711 – 1776), Đỉnh cao của quan điểm duy tâm “Ý niệm tuyệt đối” của Hêghen (1770 – 1831). Đại diện cho trường phái “Nhị nguyên luận” là Đêcác (1596 – 1650), ông là người đầu tiên tìm ra cơ chế FX trong tâm lí, nhưng lại cho rằng vật chất và tinh thần là hai thực thể song song. Cơ thể con người như FX như một chiếc máy, còn bản thể tinh thần thì không thể biết được.

  • Chủ nghĩa duy vật coi tâm lý là thuộc tính của vật chất

Spinôda (1632 – 1667, người Hà Lan): Tất cả vật chất đều có tư duy.

Lametri (1709 – 1751, người Pháp): Chỉ có cơ thể mới có cảm giác.

Cabanic (1757 – 1808): Não tiết ra tư tưởng giống như gan tiết ra mật.

L.V. Phơ Bách (1804 – 1872) nhà duy vật lỗi lạc nhất trước khi chủ nghĩa Mác ra đời cho rằng: Tâm lí không thể tách khỏi não, nó là sản vật của thứ vật chất phát triển tới mức độ cao là bộ não.

2.3. Tâm lí học trở thành một khoa học độc lập 

+ Từ nửa đầu thế kỷ XIX trở đi, nền sản xuất thế giới phát triển mạnh, thức đẩy sự tiến bộ không ngừng của nhiều nhành khoa học kỹ thuật, đặc biêt thành tựu của các ngành khoa học tự nhiên như:

  • Học thuyết tiến hóa của Đác Uyn (1809 – 1892)
  • Thuyết tâm sinh lí học giác quan của Hem hôn (1821 – 1894)
  • Thuyết Tâm vật lí học của Phecsne (1801 -1887) và Vebe (1795 – 1878)
  • Các công trình nghiên cứu về tâm thần học của bác sĩ Saccô người Pháp .

+ Thành tựu của tâm lí học lúc bấy giờ cùng với thành tựu của các ngành khoa học nói trên, điều kiện cần thiết giúp cho tâm lí học trở thành một khoa học độc lập. Năm 1879, nhà tâm lí học người Đức V. Vuntơ (1832 -1920) đã sáng lập ra phòng thực nghiệm tâm lí đầu tiên tại thành phố Laixic nước Đức, một năm sau nó trở thành viện tâm lí học đầu tiên trên thế giới, xuất bản các tạp chí tâm lí học. Từ vương quốc của chủ nghĩa duy tâm coi ý thức chủ quan là là đối tượng nghiên cứu của tâm lí học và con đường nghiên cứu là các phương pháp nội quan, tự quan sát. Vun tơ đã bắt chuyển sang nghiên cứu tâm lí ý thức một cách khách quan bằng quan sát, thực nghiệm, đo đạc…

  • Để góp phần tấn công vào chủ nghĩa duy tâm, đầu thế kỷ XX các dòng phái tâm lí học khách quan ra đời, đó là tâm lí học hành vi, tâm lí học Gestalt, phân tâm học, tâm lí học nhân văn, tâm lí học nhận thức. Sau Cách mạng tháng Mười năm 1917 thành công ở Nga, dòng phái tâm lí học hoạt động ra đời đem lại những lịch sử đáng kể trong tâm lí học.

3. Các quan điểm cơ bản trong tâm lí học hiện đại 

3.1. Tâm lí học hành vi 

+ Tâm lí học hành vi do nhà tâm lí học người Mỹ J.Oatson (1870 -1958) sáng lập. Oatson cho rằng: Tâm lí học không mô tả các trạng thái ý thức mà chỉ nghiên cứu hành vi của cơ thể.

+ Ở con người cũng như động vật hành vi được hiểu là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích nào đó.

+ Toàn bộ hành vi, phản ứng của con người và động vật phản ánh bằng công thức: S (Stimulant/kích thích) – R (Reaction/phản ứng). Biết S suy ra R và ngược lại.

+  Ưu điểm: 

  • Oatson cho rằng hành vi của con người do ngoại cảnh quyết định, có thể nghiên cứu một cách khách quan và điều khiển được.
  • Thuyết hành vi có nhiều đóng góp cho sự phát triển nền sản xuất công nghiệp của Mỹ thời bấy giờ, là cơ sở ra đời phương pháp dạy học theo chương trình hóa.

+ Hạn chế: Quan niệm máy móc, cơ học về hành vi con người, làm mất tính chủ thể, tính xã hội và tính lich sử của tâm lí. Đánh đồng tâm lí con người và tâm lí động vật. Sau này, một số tác giả theo thuyết hành vi đưa vào một số biến số trung gian như nhu cầu, trạng thái, kinh nghiệm… Nhưng về cơ bản vẫn mang tính máy móc thực dụng.

3.2. Tâm lí học Gestalt (tâm lí học cấu trúc) 

+ Dòng phái tâm lí học này ra đời ở Đức, gắn liện với tên tuổi các nhà tâm lí học: Vecthaimơ (1880 – 1943), Côlơ (1887 – 1967), Côpca (1886 – 1947).

+ Gestalt nghiên cứu về tri giác, tư duy bằng phương pháp thực nghiệm. Họ muốn xây dựng tâm lí học theo mẫu của vật lí học. Các tác giả cho rằng: Qui luật của tri giác, tư duy và tâm lí của con người nói chung do cấu trúc tiền định của não quyết định.

+ Dòng phái tâm lí này có ưu điểm là tìm ra được những qui luật của nhận thức cảm tính. Nhưng có hạn chế là chưa thấy được vốn kinh nghiệm trong phản ánh tâm lí con người.

3.3.  Phân tâm học 

+ Phân tâm học do S. Freud (bác sĩ người Áo, 1859 – 1939) sáng lập, ông nghiên cứu sâu về lĩnh vực vô thức của con người.

+ Freud chia con người thành 3 khối :

  • Cái ấy (cái vô thức) bao gồm các bản năng vô thức của con người như: ăn uống, tự vệ, tình dục… Trong đó bản năng tình dục giữ vai trò trung tâm quyết định toàn bộ đời sống tâm lí và hành vi của con người. Ông quan niệm vô thức chiếm tới 90% đời sống tâm lí của con người.

Cái ấy tồn tại theo nguyên tắc thỏa mãn và đòi hỏi. Cuộc sống là nhằm thỏa mãn tối đa các nhu cầu bản năng. Nếu mặt này không được thỏa mãn có thể tìm lối thoát ở phía khác. Thực tế cuộc sống không phải lúc nào cũng thỏa mãn được mọi nhu cầu, đòi hỏi con người phải nhận ra các chuẩn mực, điều kiện của hiện thực để suy nghĩ và hành động theo đòi hỏi thực tế chứ không theo dục vọng của bản thân, khi ấy con người có ý thức.

  • Cái tôi là ý thức thường ngày, cái tôi tồn tại theo nguyên tắc hiện thực.

Những chuẩn mực của xã hội được cá nhân nhập tâm biến thành chuẩn mực riêng của bản thân chi phối, điều hành hành vi một cách dễ dàng. Khi ấy những hành vi ý thức được ép xuống tầng vô thức, tức là trở thành cái siêu tôi.

  • Cái siêu tôi là cái tôi lý tưởng, cái siêu phàm không bao giờ vươn tới được, tồn tại theo nguyên tắc kiểm duyệt, chèn ép.

Theo Freud, ba cấp độ này luôn xảy ra xung đột với nhau. Giáo dục là phải làm cho cá nhân điều điều khiển được những hành vi bản năng của mình theo những chuẩn mực xã hội.

+ Ưu điểm lớn nhất của Freud là có nhiều đóng góp trong lĩnh vực nghiên cứu vô thức, đặc biệt là chữa bệnh tâm thần. Tuy nhiên ông đã quá đề cao bản năng của con người đặc biệt là vấn đề tình dục.

3.4. Tâm lí học nhân văn 

+ Dòng phái tâm lí học nhân văn do Crôgiơ (1902 – 1987) và H.maslow sáng lập. Tâm lí học nhân văn quan niệm: Bản chất con người vốn rất tốt đẹp. Con người có lòng vị tha, có tiềm năng kỳ diệu. Tâm lí học cần giúp con người tìm được bản ngã đích thực của mình để sống thoải mái, cởi mở, hồn nhiên và sáng tạo.

+ Maslow nêu lên 5 mức độ nhu cầu cơ bản của con người  được xếp từ thấp đến cao cần được thỏa mãn:

  • Nhu cầu sinh lí cơ bản
  • Nhu cầu an toàn
  • Nhu cầu về quan hệ xã hội
  • Nhu cầu được kính nể, ngưỡng mộ
  • Nhu cầu phát huy bản ngã thành đạt.

+ Tâm lí học nhân văn có ưu điểm là đề cao mặt xã hội trong tâm lí con người. Tuy nhiên họ lại nhấn mạnh thể nghiệm chủ quan cá nhân, chú ý nhiều đến mặt nhân văn trừu tượng.

3.5. Tâm lí học nhận thức 

+ Người sáng lập ra trường phái tâm lí học nhận thức là G.Piaget (Thụy sĩ) và  Brunơ (trước ở Mỹ sau đó ở Anh)

+ Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học nhận thức là hoạt động nhận thức của con người trong mối quan hệ với môi trường, với cơ thể và não bộ.

+ Tâm lí học nhận thức phát hiện ra nhiều sự kiện khoa học có giá trị trong các lĩnh vực nhận thức, ngôn ngữ và xây dựng được nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể cho tâm lí học ở những năm 50 – 60 ở thế kỷ trước.

+ Hạn chế của trường phái tâm lí này là coi nhận thức của con người như là sự nỗ lực của ý chí để đưa đến sự thay đổi vốn kinh nghiệm sống, tri thức của chủ thể nhằm thích nghi cân bằng với thế giới mà chưa thấy hết ý nghĩa tích cực, ý nghĩa thực tiễn của hoạt động nhận thức.

3.6. Tâm lí học hoạt động 

+ Do các nhà tâm lí học Liên Xô cũ sáng lập bao gồm: L.X. Vugotxki (1896 – 1934), X.L. Rubinstein (1902 – 1960), A.N. Leonchiev (1903 -1979), A.R. Luria (1902 – 1977)…

+ Tâm lí học hoạt động lấy triết học Mác – lênin làm cơ sở lí luận  và phương pháp luận, xây dựng nền tâm lí học lịch sử người: Coi tâm lí là sự phản ánh thế giới khách quan vào não thông qua hoạt động. Tâm lí người mang tính chủ thể và ,có bản chất xã hội. Tâm lí người được hình thành và thể hiện và phát triển trong hoạt động, trong các mối quan hệ giao tiếp. Chính vì vậy tâm lí học Mac xít được gọi là tâm lí học hoạt động.

+ Sự ra đời của tâm lí học hoạt động đã xây dựng được cơ sở phương pháp luận biện chứng, có quan điểm đầy đủ đúng đắn về tâm lí con người, góp phần đưa tâm lí học tới đỉnh cao của sự phát triển.

   Tóm lại, tất cả các dòng phái tâm lí học trên đây đã đưa tâm lí học đi theo hướng khách quan, phát hiện và giải thích đúng đắn về những qui luật hình thành phát triển tâm lí con người, góp phần và sự phát triển đi lên của xã hội.

4. Đối tượng, nhiệm vụ của tâm lí học 

+ Đối tượng nghiên cứu của tâm lí học là đời sống tâm lí con gười với tư cách là một hiện tượng tinh thần do thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra, gọi chung là hoạt động tâm lí. Cụ thể tâm lí học nghiên cứu sự hình thành, vận hành và phát triển của hoạt động tâm lí. Vì vậy tâm lí học là khoa học trung gian vì nó nghiên cứu dạng vận động chuyển tiếp từ vận động sinh vật sang vận động xã hội (từ thế giới khách quan tác động vào não con người sinh ra hiện tượng tâm lí với tư cách là hiện tượng tinh thần). Tâm lí học có liên quan mật thiết với triết học, khoa học tự nhiên (đặc biệt là sinh lí học) và các khoa học nhân văn.

+ Nhiệm vụ cơ bản của tâm lí học là nghiên cứu: 

  • Những yếu tố khách quan, chủ quan nào tạo ra tâm lí người
  • Cơ chế hình thành, biểu hiện của hoạt động tâm lí.
  • Tâm lí của con người hoạt động như thế nào?
  • Chức năng, vai trò của tâm lí đối với hoạt động của con người.
  • Có thể nêu lên các nhiệm vụ cụ thể của tâm lí học như sau:
  • Nghiên cứu bản chất của hoạt động tâm lí cả về số lượng và chất lượng.
  • Phát hiện ra các qui luật hình thành và phát triển tâm lí.
  • Tìm ra cơ chế của các hiện tượng tâm lí.

Trên cơ sở các thành tựu nghiên cứu, tâm lí học đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc hình thành phát triển tâm lí và việc sử dụng tâm lí trong nhân tố con người có hiệu quả nhất.

Bản chất, chức năng, phân loại các hiện tượng tâm lí 

1. Bản chất của tâm lí người 

1.1.Tâm lí người là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người  thông qua tính chủ thể 

* Thế giới khách quan là tất cả những gì tồn tại ngoài ý thức của con người, bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường xã hội (sản phẩm vật chất, sản phẩm tinh thần, quan hệ xã hội). Hiện thực khách quan tồn tại bằng các thuộc tính không gian, thời gian luôn luôn vận động.

* Phản ánh là gì ?

+ Phản ánh là quá trình tác động qua lại giữa hệ thống vật chất này và hệ thống vật chất khác, kết quả để lại dấu vết (hình ảnh) tác động ở cả hệ thống tác động và hệ thống chịu sự tác động. Ví dụ: Lá cây rụng trên mặt cát, để lại hình dáng của nó trên mặt cát, ngược lại mặt cát để lại dấu vết ở lá cây… Hoặc viên phấn viết lên bảng đen để lại dấu vết của nó trên bảng, ngược lại bảng đen làm mòn (để lại dấu vết) viên phấn. Như vậy muốn có sự phản ánh phải có sự tác động qua lại giữa các hệ thống vật chất.

+ Phản ánh là thuộc tính chung của mọi sự vật hiện tượng đang phát triển. Phản ánh diễn ra từ đơn giản đến phức tạp và có sự chuyển hóa lẫn nhau: Phản ánh vật lí (thấp nhất là cơ học), phản ánh hóa học, phản ánh sinh vật, phản ánh xã hội trong đó có phản ánh tâm lí.

* Phản ánh tâm lí là loại phản ánh đặc biệt

+ Đó là phản ánh được diễn ra nhờ sự hoạt động của hệ thống vật chất có tổ chức cao nhất là não người trước tác động của thế giới khách quan. Chỉ có hệ thần kinh và não người mới có khả năng nhận tác động của hiện thực khách tạo ra trên não hình ảnh tinh thần (tâm lí) chứa đựng trong vết vật chất. Thực chất đó là quá trình sinh lí, sinh hóa ở trong hệ thần kinh và não bộ. Vì vậy K. Mac nói: Tinh thần, tư tưởng, tâm lí… Chẳng qua là vật chất được chuyển vào trong đầu biến đổi trong đó mà có. Như vậy tâm lí có nguồn gốc từ hiện thực khách quan, nội dung tâm lí cũng do hiện thực khách quan quyết định. Não là cơ sở vật chất là bộ máy phản ánh thế giới khách quan.

+ Phản ánh tâm lí tạo ra hình ảnh tâm lí. Hình ảnh tâm lí là hình ảnh về thế giới (bản sao chép về thế giới). Nó là kết quả phản ánh thế giới khách quan vào não. Song hình ảnh tâm lí khác về chất so với hình ảnh cơ học, vật lí, hóa học sinh vật ở chỗ:

  • Hình ảnh tâm lí không phải là hình ảnh chết cứng mà nó mang tính sinh động, sáng tạo có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của chủ thể phản ánh.
  • Hình ảnh tâm lí mang tính chủ thể. Nói cách khác hình ảnh tâm lí là hình ảnh chủ quan của con người về thế giới khách quan.

Tính chủ thể biểu hiện:

Cùng nhận sự tác động khách quan như nhau nhưng ở những chủ thể khác nhau cho ta những hình ảnh tâm lí với những mức độ, sắc thái khác nhau.

Cùng một hiện thực khách quan tác động đến một chủ thể duy nhất nhưng vào những thời điểm khác nhau, với trạng thái cơ thể khác nhau, tinh thần khác nhau, mức độ biểu hiện và sắc thái tâm lí khác nhau ở chủ thể ấy.

Chủ thể mang tâm lí là người cảm nghiệm rõ nhất đời sống tâm lí của mình.

Nguyên nhân của tính chủ thể:

Mỗi người có đặc điểm riêng về cơ thể, về giác quan, hệ thần kinh và não bộ.

Mỗi người có điều kiện giáo dục, hoàn cảnh sống riêng, vốn kinh nghiệm phong phú khác nhau.

Tính tích cực hoạt động của mỗi người khác nhau.

Từ bản chất của hiện tượng tâm lí, trong thực tiễn cuộc sống chúng ta cần lưu ý:

  • Xem xét và cải tạo tâm lí con người chúng ta phải nghiên cứu hoàn cảnh trong đó con người sống và hoạt động.
  • Trong quan hệ ứng xử với mọi người, đặc biệt là trong dạy học phải chú ý đến cá tính riêng biệt của mỗi người để có cách ứng xử phù hợp (phải thực hiện nguyên tắc đối xử cá biệt).
  • Tâm lí là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp phải tổ chức hoạt động và giao tiếp để để nghiên cứu sự hình thành và phát triển tâm lí con người.
1.2. Bản chất xã hội lịch sử của tâm lí người 

+ Tâm lí người có nguồn gốc xã hội, chỉ được hình thành trong môi trường xã hội. Vì tâm lí có nguồn gốc từ thế giới khách quan (tự nhiên và xã hội), trong đó xã hội lại là yếu tố quyết định. Ngay cả phần tự nhiên trong thế giới cũng được xã hội hóa. Vì vậy con người khi sinh ra, thoát khỏi xã hội loài người không được giao tiếp với người khác, không bao giờ có tâm lí người bình thường. Những trường hợp trẻ em bị động vật nuôi đã chứng minh rõ điều đó. 

+ Ngay từ khi mới sinh ra, con người đã chịu sự tác động trực tiếp của những mối quan hệ xã hội như: Phong tục, tập quán, quan hệ đạo đức, pháp luật, kinh tế, quan hệ giao tiếp giữa người với người từ quan hệ gia đình, làng xóm, cộng đồng… Sự hình thành và phát triển tâm lí của mỗi người là sự phản ánh lại toàn bộ các mối quan hệ xã hội mà người ấy có, như K. Mác nói: Bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Sống trong môi trường nào, tập thể nào, tâm lí con người thể hiện những đặc trưng của môi trường xã hội ấy, tập thể ấy. Vì vậy tâm lí mỗi người vừa có cái chung của cộng đồng, vừa có cái riêng của người ấy.

+ Tâm lí người là sản phẩm của hoạt động và giao tiếp của con người trong các mối quan hệ xã hội.

  • Con người là một thực thể tự nhiên, vừa là một thực thể xã hội. Phần tự nhiên trong mỗi con người đã được xã hội hóa ở mức độ cao. Là một chủ thể xã hội, con người tích cực hoạt động nhận thức, cải tạo thế giới, cải tạo chính bản thân mình. Toàn bộ những kinh nghiệm ấy được tích lũy, được ghi lại trong công cụ lao động, công cụ tiêu dùng, trong quan hệ xã hội… Tạo nên nền văn minh nhân loại và lưu truyền từ đời này qua đời khác. Tâm lí con người là sản phẩm hoạt động của con người với tư cách là một chủ thể xã hội, tâm lí mang đầy đủ dấu ấn xã hội lịch sử của con người.
  • Mỗi cá nhân sinh ra muốn phát triển thành người lớn phải hoạt động lĩnh hội những tri thức trong nền văn hóa nhân loại thành kinh nghiệm của chính mình tạo ra sự phát triển tâm lí của bản thân. Quá trình ấy luôn luôn phải có sự hướng dẫn của người lớn (thông qua giáo dục). Nói cách khác tâm lí của mỗi người là kinh nghiệm của của xã hội loài người chuyển thành kinh nghiệm của cá nhân thông qua hoạt động và giao tiếp của mỗi người.
  • Tâm lí mỗi người được hình thành, phát triển và biến đổi cùng với sự phát triển của lịch sử cá nhân, lịch sử dân tộc và cộng đồng, chịu sự chế ước bởi lịch sử của cá nhân và của cộng đồng.

Tóm lại, tâm lí có nguồn gốc xã hội, mang nội dung xã hội, vận động cùng với sự vận động và phát triển của xã hội.

Trong quá trình giáo dục học sinh nhằm phát triển tâm lí của các em cần phải chú ý:

  • Xem xét và cải tạo các mối quan hệ xã hội cụ thể của học sinh (quan hệ gia đình, quan hệ bạn bè, hành xóm, khối phố…)
  • Giáo dục và dạy học luôn chú ý tổ chức tốt các loại hình hoạt động, các quan hệ giao tiếp cho trẻ, phát huy tính tích cực hoạt động của các em.
  • Nội dung và phương pháp giáo dục, dạy học phải phù hợp với trình độ phát triển tâm lí của học sinh thời hiện đại
  • Có cách nhìn biện chứng đối với nhân cách của trẻ, không chủ quan, không thành kiến trong giáo dục.

2. Chức năng của tâm lí 

   Hiện thực khách quan quyết định tâm lí con người, nhưng tâm lí con người lại tác động lại hiện thực khách quan bằng tính năng động sáng tạo của nó thông qua hoạt động, hành động, hành vi của con người.

+ Tâm lí có chức năng chung là định hướng cho hoạt động (thể hiện vai trò của động cơ, mục đích của hành động).

+ Tâm lí là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, khắc phục mọi khó khăn vươn tới mục đích đề ra.

+ Tâm lí điều khiển, kiểm tra quá trình hoạt động bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp, phương thức tiến hành hoạt động, làm cho hoạt động của con người trở nên có ý thức, đem lại hiệu quả.

+ Tâm lí giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù hợp với với mục tiêu đã định và điều kiện, hoàn cảnh cho phép.

3. Phân loại hiện tượng tâm lí 

Có nhiều cách phân loại hiện tượng tâm lí.

3.1. Căn cứ vào thời gian tồn tại và vị trí của các hiện tượng tâm lí trong nhân cách 

Đời sống tâm lí được phân làm 3 loại:

* Các quá trình tâm lí là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong thời gian tương đối ngắn, có mở đầu, diễn biến, kết thúc rõ ràng bao gồm các quá trình:

+ Các quá trình nhận thức: Cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng.

+ Các quá trình cảm xúc: Vui mừng, tức giận, sung sướng, buồn rầu…

+ Quá trình hành động ý chí.

* Các trạng thái tâm lí: Là những hiện tượng tâm lí diễn ra trong thời gian tương đối lâu dài, việc mở đầu, diễn biến kết thúc không rõ ràng, thường đi kèm với quá trình tâm lí.

* Các thuộc tính tâm lí: Là những hiện tượng tâm lí tương đối ổn định khó hình thành, khó mất, tạo thành những nét đặc trưng của nhân cách.

Các hiện tượng tâm lí trên có quan hệ mật thiết với nhau tạo thành đời sống tâm lí phức tạp của con người.

3.2. Dựa vào sự nhận biết của chủ thể về đời sống tâm lí của mình, tâm lí được phân thành các loại 

+ Hiện tượng tâm lí có ý thức

+ Hiện tượng tâm lí chưa được ý thức, gồm:

  • Vô thức
  • Tiềm thức
  • Tiền thức (dưới ngưỡng ý thức)
3.3 Dựa vào phạm vi, hiện tượng tâm lí được phân thành hai loại 

+ Tâm lí cá nhân

+ Tâm lí xã hội

3.4. Cũng có thể phân tâm lí thành hai loại 

Tâm lí sống động và tâm lí tồn đọng.

Nguyên tắc và phương pháp nghiên cứu tâm lí 

1. Các nguyên tắc phương pháp luận của tâm lí học khoa học 

1.1. Nguyên tắc quyết định luận duy vật biện chứng.

1.2. Nguyên tắc thống nhất tâm lí, ý thức, nhân cách với hoạt động.

1.3. Nguyên tắc nghiên cứu các hiện tượng tâm lí trong mối liên hệ giữa chúng với nhau và trong mối liên hệ giữa chúng với các hiện tượng khác.

1.4. Phải nghiên cứu tâm lí của một con người cụ thể, của một nhóm người cụ thể, chứ không nghiên cứu tâm lí một cách chung chung, nghiên cứu tâm lí ở một con người trừ trượng, một cộng đồng trừu tượng.

2. Các phương pháp nghiên cứu tâm lí 

2.1. Phương pháp quan sát

2.2. Phương pháp thực nghiệm

2.3. Phương pháp trắc nghiệm (test)

2.4. Phương pháp trò chuyện

2.5. Phương pháp điều tra

2.6. Phương pháp phân tích sản phẩm hoạt động

2.7. Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân.

You may also like...

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *